Tháng 8/2026, khu liên hợp gang thép Hòa Phát Dung Quất đạt sản lượng gang lỏng 1 triệu tấn, tăng khoảng 2% so với tháng 7 và gần 65% so với cùng kỳ năm 2025.CafeF Nhân mốc này, Hòa Phát công bố toàn bộ khu liên hợp chính thức vận hành đồng bộ với tổng công suất thiết kế 12 triệu tấn thép mỗi năm, tổng vốn đầu tư trên 7 tỷ USD.Người Quan Sát
Nhưng đây không phải tháng đầu tiên cả sáu lò cao cùng chạy. Theo chính bản tin của doanh nghiệp, tháng 8/2026 đánh dấu tròn một năm sáu lò cao vận hành đồng bộ, kể từ khi lò cao cuối cùng của Dung Quất 2 đi vào hoạt động từ tháng 9/2025. Cái mới của tháng 8 là sản lượng lần đầu chạm mức tương đương công suất thiết kế, không phải quyết định bật thêm lò. Điều đó loại bỏ cách đọc dễ nhất, rằng Hòa Phát vừa canh đúng lúc giá thép hồi phục để mở hết van sản xuất. Công suất đã có sẵn từ một năm trước, nên câu hỏi thật đáng đặt ra là vì sao doanh nghiệp phải vắt kiệt hiệu suất ngay cả khi chưa biết chu kỳ giá còn kéo dài bao lâu.
Khoản chi phí không co lại theo sản lượng
Câu trả lời nằm trong cấu trúc chi phí của một dự án vốn lớn. Quý 2/2026, Hòa Phát ghi nhận chi phí khấu hao 2.851 tỷ đồng và chi phí lãi vay 1.520 tỷ đồng, cộng lại khoảng 4.371 tỷ đồng trong một quý, tương đương gần 8% doanh thu thuần cùng kỳ (55.158,9 tỷ đồng). Hai khoản này gần như không đổi theo sản lượng: máy móc vẫn khấu hao theo lịch dù lò cao chạy nhanh hay chậm, ngân hàng vẫn tính lãi trên dư nợ dù nhà máy bán được bao nhiêu tấn thép. Cách duy nhất để làm nhẹ gánh nặng đó trên từng tấn sản phẩm là chia nó cho một mẫu số lớn hơn.
Sản lượng thép thô toàn tập đoàn quý 2/2026 đạt hơn 3,6 triệu tấn, tăng 48% so với cùng kỳ. Chia 4.371 tỷ đồng cho 3,6 triệu tấn, mỗi tấn thép gánh khoảng 1,2 triệu đồng khấu hao và lãi vay. Nếu sản lượng rơi về 2,9 triệu tấn, cùng khoản chi phí ấy đội lên khoảng 1,5 triệu đồng mỗi tấn. Doanh nghiệp không làm gì sai và giá bán cũng chưa đổi, nhưng giá thành đã tự động cao thêm một phần tư.

Đó là lý do chạy hết công suất không phải một lựa chọn theo chu kỳ giá, mà là điều kiện để bài toán chi phí của một tổ hợp 7 tỷ USD đứng vững. Giá thép quyết định lãi bao nhiêu, chứ không quyết định có chạy hay không.
Chênh lệch giá bán và nguyên liệu rộng nhất sáu quý
Phần may mắn của Hòa Phát là mẫu số lớn hơn đang gặp đúng lúc tử số cũng rộng ra. Giá HRC bình quân quý 3/2026 ở mức 1.193,9 USD/tấn, tăng 42,4% so với cùng kỳ, trong khi giá quặng sắt bình quân chỉ 96,9 USD/tấn, giảm 4,2%. Khoảng cách giữa giá bán và giá nguyên liệu chính đã nới từ khoảng 707 USD/tấn quý 1/2025 lên khoảng 1.097 USD/tấn quý 3/2026, mức rộng nhất trong ít nhất sáu quý gần đây.
Biên lợi nhuận gộp đi theo đúng đường đó: từ nền 12,7% quý 4/2024, lên 18,4% quý 2/2025, hạ về 13,9% quý 4/2025 khi giá quặng tăng nhanh hơn giá bán, rồi phục hồi lên 15,8% quý 1/2026 và đạt đỉnh 19,0% ở quý 2/2026. Lợi nhuận gộp tuyệt đối tăng từ 4.364,9 tỷ đồng lên 10.487,8 tỷ đồng trong sáu quý.

Cần gọi tên đúng nguồn gốc của phần cải thiện này: nó đến từ giá bán tăng, không đến từ tiết giảm chi phí đầu vào. Quặng sắt suốt sáu quý chỉ dao động trong dải hẹp 96 đến 107 USD/tấn. Một doanh nghiệp lãi nhờ giá bán sẽ mất lãi cũng nhanh như vậy khi giá bán quay đầu.
Thứ đang tăng nhanh không phải quặng sắt
Nếu chỉ nhìn giá quặng sắt, bức tranh chi phí đầu vào của Hòa Phát trông rất dễ thở. Nhìn sang than cốc thì khác hẳn.

Giá than cốc thế giới đã lên 274,00 USD/tấn ngày 3/9/2026, so với 226,50 USD/tấn giữa tháng 7, tức vọt khoảng 21% trong sáu tuần. Riêng nửa cuối tháng 8, giá nhảy 17,6% chỉ trong hai tuần, trong khi cùng thời gian đó giá HRC thế giới chỉ tăng khoảng 4%. Than cốc là nhiên liệu và chất khử bắt buộc của công nghệ lò cao mà cả sáu lò ở Dung Quất đang dùng. Khi tốc độ tăng của than cốc gấp năm lần tốc độ tăng của giá bán, phần chênh lệch mà bảng giá quặng sắt cho thấy sẽ bị bào bớt trên thực tế. Đây là hai loại nguyên liệu tăng vì hai lý do khác nhau, nên bức tranh chi phí đầu vào không thể gói gọn trong một biểu đồ giá quặng sắt.
Thêm một lớp nữa ở khâu vận chuyển. Chỉ số cước vận tải Baltic Dry đi từ 2.791 điểm ngày 20/8 lên 3.488 điểm ngày 3/9, tăng khoảng 25%. Hòa Phát nhập gần như toàn bộ quặng sắt và than cốc bằng đường biển nên cước tăng là chi phí thật, dù cước cao cũng bảo vệ giá bán trong nước theo chiều ngược lại. Ở chiều nội địa, thép cây D10 đứng yên ở 14.210 đồng/kg suốt nhiều tuần: đợt tăng giá đang diễn ra chảy vào phần HRC của Dung Quất, không chảy vào phần thép xây dựng.
Lớp chắn ở đầu ra
Bù lại, đầu ra của Hòa Phát đang được che chắn tốt hơn trước. Ngày 2/4/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định 612/QĐ-BCT áp thuế chống lẩn tránh tạm thời 27,83% với thép HRC khổ rộng nhập khẩu từ Trung Quốc, có hiệu lực từ 17/4/2026.VietnamBiz Hòa Phát là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất sản xuất được HRC, nên hàng rào này đẩy nhu cầu về phía nguồn cung nội địa. Doanh số HRC quý 2/2026 đạt 1,9 triệu tấn, tăng 64% so với cùng kỳ và 31% so với quý trước, đưa thị phần HRC của Hòa Phát lên 63,7% từ mức 62,3% của quý 1. Khoảng 80% lượng HRC bán ra tiêu thụ trong nước, phần còn lại xuất khẩu sang khoảng 20 quốc gia.

Cấu trúc này vừa là điểm mạnh vừa là điểm cần theo dõi. Doanh nghiệp ít phụ thuộc vào rủi ro phòng vệ thương mại ở nước ngoài, nhưng đổi lại, sức khỏe của nhu cầu xây dựng và sản xuất trong nước gần như quyết định toàn bộ đầu ra.
Đòn bẩy vận hành cắt cả hai chiều
Rủi ro của cấu trúc chi phí này nằm chính ở chỗ mạnh của nó: cơ chế trải chi phí cố định lên sản lượng lớn khuếch đại lợi nhuận khi giá bán tăng, và khuếch đại đúng bằng chừng đó khi giá bán giảm. Chi phí lãi vay đã tăng từ 627 tỷ đồng quý 1/2025 lên 1.520 tỷ đồng quý 2/2026. Hệ số thanh toán lãi vay quý 2/2026 ở mức 4,7 lần, thấp hơn mức 8,0 lần của quý 1/2026. Bảng cân đối vẫn kiểm soát được: tổng nợ vay 98.530 tỷ đồng, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu 0,97 lần, nợ ròng trên EBITDA đã giảm từ 13,0 lần quý 1/2025 xuống 7,7 lần, vốn chủ sở hữu tăng đều lên 141.516 tỷ đồng. Đây không phải một bảng cân đối căng, nhưng nó là bảng cân đối cần dòng tiền đều để vận hành nhẹ nhàng.
Vì sao mốc tháng 8 lại đến vào lúc này chứ không sớm hay muộn hơn? Cách đọc yếu nhất là doanh nghiệp canh chu kỳ giá, vì công suất đã sẵn sàng từ tháng 9/2025 và một lò cao không thể bật tắt theo giá tuần. Cách đọc mạnh hơn là đường cong kỹ thuật: Hòa Phát cho biết mốc sản lượng đạt được nhờ điều chỉnh dòng khí trung tâm trong lò, thiết kế lại mô hình nạp liệu, tối ưu trọng lượng mẻ quặng và tỷ lệ oxy làm giàu, những cải tiến tích lũy theo thời gian chứ không phải quyết định trong một tháng. Số liệu ủng hộ cách đọc này: mức tăng 65% so với cùng kỳ chủ yếu do nền tháng 8/2025 còn thiếu lò cao cuối, còn so với tháng 7/2026 sản lượng chỉ nhích 2%. Lực kéo từ nhu cầu HRC nội địa sau hàng rào thuế tháng 4/2026 giải thích tốt cho việc hàng bán được, nhưng không giải thích cho hiệu suất lò cao.
Từ đây, biến số còn lại là giá
Với nhà đầu tư đang cầm hoặc theo dõi HPG, thay đổi lớn nhất sau mốc tháng 8 là nguồn tăng trưởng đã đổi bản chất. Suốt sáu quý qua, lợi nhuận tăng nhờ hai chân cùng lúc: sản lượng mở rộng khi Dung Quất 2 vào vận hành, và giá bán đi lên. Khi sản lượng đã chạm mức tương đương công suất thiết kế, chân thứ nhất gần như hết dư địa cho tới khi có dự án mới. Từ quý 4/2026 trở đi, phần lợi nhuận tăng thêm chủ yếu chỉ có thể đến từ giá bán và từ mức tiêu hao nguyên liệu trên mỗi tấn.
Vì vậy, chỉ báo đáng theo dõi không còn là sản lượng hàng tháng, mà là khoảng chênh giữa giá HRC và tổng chi phí quặng sắt cộng than cốc. Trong dữ liệu sáu quý gần nhất, mọi lần biên gộp co lại đều trùng với giai đoạn khoảng chênh này thu hẹp, và ngược lại. Đợt tăng 21% của than cốc trong sáu tuần qua là tín hiệu đầu tiên cho thấy khoảng chênh đó có thể không tiếp tục nới rộng theo cách nó đã nới suốt năm nay, dù chưa đủ để đảo ngược xu hướng biên gộp nếu giá HRC giữ được đà tăng.
Cổ phiếu HPG đóng cửa phiên 4/9/2026 ở 21.700 đồng, vốn hóa khoảng 166,6 nghìn tỷ đồng. Kết quả kinh doanh quý 3/2026, dự kiến công bố trong tháng 10, sẽ là kỳ đầu tiên phản ánh trọn vẹn cả sản lượng chạm trần lẫn đợt tăng giá than cốc, câu trả lời cho việc cùng một khối lượng thép, doanh nghiệp giữ lại được bao nhiêu.

