Trong cùng một hệ thống ngân hàng, cùng một khái niệm "giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng và người có liên quan", đang tồn tại hai con số đi về hai hướng đối nghịch. Một con số nằm trong luật, giảm đều mỗi năm theo lộ trình cứng. Con số còn lại vừa xuất hiện trong một dự thảo Thông tư, cao gấp khoảng 2,5 lần. Với người đang nắm cổ phiếu ngân hàng, khoảng cách giữa hai con số này quyết định ai được hưởng dư địa vay vốn, và ai phải gánh phần rủi ro đi kèm.
Trần chung: một lộ trình chỉ đi xuống
Điều 136 Luật các tổ chức tín dụng 2024 đặt lộ trình giảm dần cho tổng dư nợ cấp tín dụng của một ngân hàng thương mại đối với một khách hàng và nhóm người có liên quan. Từ 1/7/2024 đến trước 1/1/2026, mức trần là 14% vốn tự có cho một khách hàng và 23% cho khách hàng cùng người có liên quan. Mức này giảm còn 13% và 21% trong năm 2026, xuống 12% và 19% năm 2027, 11% và 17% năm 2028, và về mức thấp nhất 10% và 15% từ 1/1/2029.VietnamBiz
Ý đồ rất dễ đọc: càng ít tiền dồn vào một khách hàng, ngân hàng càng ít phụ thuộc vào sức khỏe của một người vay duy nhất. Đây chính là loại rủi ro từng tạo ra những vụ đổ vỡ lớn nhất trong lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam.

Làn riêng: 38% và 52% cho dự án lớn tại Hà Nội
Song song với lộ trình trên, Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến một dự thảo Thông tư cho phép mức cấp tín dụng vượt giới hạn không quá 38% vốn tự có với một khách hàng, và không quá 52% với một khách hàng cùng người có liên quan.Tin nhanh chứng khoán Phạm vi áp dụng hẹp, không phải trần mới cho toàn nền kinh tế: chỉ dành cho các dự án lớn tại Thủ đô đã được phê duyệt theo Nghị quyết 258/2025/QH15, và ngân hàng chỉ được xét duyệt khi đáp ứng điều kiện tại khoản 2 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg.Tin nhanh chứng khoán
Khoảng cách giữa hai con số lớn hơn nhiều so với cảm giác khi đọc phần trăm. Vốn tự có của Vietcombank và VietinBank tại cuối năm 2025 lần lượt khoảng 222.722 tỷ đồng và 229.177 tỷ đồng.CafeF Với trần 21% của năm 2026, một nhóm khách hàng liên quan vay tối đa khoảng 48.000 tỷ đồng tại một trong hai ngân hàng này; với trần 52% trong dự thảo, con số đó có thể lên khoảng 119.000 tỷ đồng, còn một khách hàng đơn lẻ tiếp cận được khoảng 87.000 tỷ đồng.CafeF Chênh lệch khoảng 71.000 tỷ đồng cho một nhóm khách hàng, tại một ngân hàng, là quy mô đủ để tài trợ một tuyến đường sắt đô thị.

Cái giá đi kèm: hồ sơ nặng và trách nhiệm pháp lý
Dự thảo không mở trần rồi để đó. Đổi lại phần dư địa, ngân hàng phải nộp hồ sơ dày hơn hẳn thông lệ: giá trị, tiến độ giải ngân, mục đích cấp tín dụng, hồ sơ pháp lý dự án, đánh giá rủi ro và phương án phòng ngừa, khả năng trả nợ của khách hàng, tất cả trình Thống đốc xem xét. Sau khi được chấp thuận, ngân hàng vẫn chịu trách nhiệm thẩm định, giám sát sử dụng vốn, thu hồi nợ, xử lý rủi ro, và báo cáo Ngân hàng Nhà nước hằng tháng.Tin nhanh chứng khoán
Nói cách khác, rủi ro tập trung không biến mất. Nó được cho phép lớn hơn, đổi lại bằng một lớp giám sát dày hơn và một chữ ký chịu trách nhiệm rõ ràng hơn.

Hai cơ chế song song, chỉ một cái đã có hiệu lực
Đây là chỗ dễ nhầm với nhà đầu tư đang theo dõi nhóm ngân hàng và bất động sản. Cơ chế thứ nhất đã ban hành: Công văn 5386/NHNN-TD ngày 22/6/2026 loại trừ dư nợ của 18 dự án trọng điểm do Vingroup, Sun Group và Masterise đề xuất, tổng nhu cầu vốn hơn 752.000 tỷ đồng, khi tính chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.MarketTimes Đó là cơ chế miễn room, gỡ giới hạn tốc độ tăng dư nợ toàn hàng. Cơ chế thứ hai vẫn là dự thảo: trần 38% và 52% tính trên vốn tự có, gỡ giới hạn mức tập trung vào một khách hàng. Hai cơ chế giải quyết hai nút thắt khác nhau, chưa nên cộng gộp.
Thực tế giải ngân cũng chậm hơn tốc độ ra chính sách: ngày 10/8/2026, HĐND Hà Nội phải gia hạn thêm 6 tháng cho 6 dự án lớn thuộc Nghị quyết 258 vì chưa đủ điều kiện khởi công, chủ yếu vướng quy hoạch và giải phóng mặt bằng.CafeF Cơ chế mở ra dư địa, nhưng dư địa chỉ thành dư nợ khi dự án đủ điều kiện pháp lý và ngân hàng chấp nhận thẩm định.
Bên nào gánh rủi ro, trong điều kiện biên lãi nào
Phần dư địa tín dụng chảy về phía chủ đầu tư, còn phần rủi ro tập trung ở lại trên bảng cân đối của ngân hàng. Biên lãi thuần (NIM) đang cho thấy bức tranh không đồng đều: bình quân của 17 ngân hàng niêm yết quý 2/2026 đạt 3,25%, trung vị 3,08%. So với quý liền trước, 14/17 ngân hàng cải thiện biên, bình quân tăng 0,13 điểm phần trăm; nhưng so với cùng kỳ 2025, 13/17 ngân hàng có NIM thấp hơn, bình quân giảm 0,33 điểm phần trăm.

Chi phí vốn giải thích phần lớn khoảng cách này. Lãi suất huy động bình quân toàn hệ thống đã tăng khoảng 61 đến 109 điểm cơ bản so với đáy năm 2025 tùy kỳ hạn, bình quân khoảng 83 điểm cơ bản; riêng kỳ hạn 12 tháng gửi trực tuyến, mặt bằng đi từ 5,14% lên 6,13%. Tín hiệu tích cực: tính đến 22/8/2026, huy động vốn bằng đồng Việt Nam tăng 8,77% so với đầu năm, vượt tốc độ tăng dư nợ tín dụng 8,38%, đảo chiều so với nhiều năm tín dụng chạy nhanh hơn huy động. Nhưng nguồn tiền đó có giá, được hút về bằng mặt bằng lãi suất tiền gửi cao hơn, và còn độ trễ trước khi phản ánh hết vào NIM các quý tới.
VietinBank và Vietcombank cải thiện NIM rõ nhất so với cùng kỳ, lần lượt tăng 0,36 và 0,35 điểm phần trăm; ngược lại SHB giảm 1,84 điểm và HDBank giảm 1,59 điểm phần trăm. Đáng chú ý: chính nhóm quốc doanh có vốn tự có lớn nhất, tức có dư địa tuyệt đối lớn nhất nếu trần 52% được ban hành.
Thị trường đang định giá điều gì
Diễn biến giá hai phiên gần nhất cho thấy nhà đầu tư đang nhìn vào biên lãi trước, chứ chưa nhìn vào trần tín dụng. Phiên 3/9, nhóm ngân hàng giảm bình quân 1,74% trong khi VN-Index chỉ mất 0,24%, đóng cửa tại 1.827,72 điểm; áp lực bán tập trung vào các mã vốn hóa lớn, Techcombank giảm 3,89%, VPBank giảm 3,06%, Vietcombank giảm 2,33%, cùng phiên khối ngoại bán ròng hơn 1.562 tỷ đồng.Nhân Dân
Phiên 4/9, tin dự thảo xuất hiện trên mặt báo từ buổi sáng. VN-Index tăng 1,39% lên 1.853,08 điểm, nhưng nhóm 17 mã ngân hàng chỉ tăng bình quân khoảng 0,56%. VPBank tăng 3,15% và Sacombank tăng 3,76%, trong khi VietinBank giảm 0,32% và MB giảm 0,24%. Nhóm ngân hàng tham gia nhịp hồi nhưng chậm hơn thị trường chung, và mức phân hóa nội bộ còn lớn hơn mức tăng bình quân. Đó là hành vi của một nhóm cổ phiếu đang chờ số liệu quý 3, không phải nhóm vừa nhận tin tốt về dư địa cho vay.
Khung theo dõi cho nhà đầu tư
Với người đang nắm cổ phiếu ngân hàng, hai lớp thông tin cần tách bạch. Lớp thứ nhất là chính sách: dự thảo Thông tư mới đang trong vòng lấy ý kiến, chưa ban hành, mức 38% cùng 52% vẫn có thể thay đổi sau khi tổng hợp góp ý. Tín hiệu đáng theo dõi là văn bản chính thức, không phải bản dự thảo. Lớp thứ hai là kết quả kinh doanh: biến số quyết định lợi nhuận nhóm ngân hàng bốn tháng tới vẫn là chi phí vốn và NIM, chứ không phải trần cấp tín dụng, vì trần chỉ tạo dư địa còn dư địa chỉ thành thu nhập khi có dự án đủ điều kiện giải ngân. Tiến độ 6 dự án bị gia hạn tại Hà Nội cho thấy khâu đó đang là nút cổ chai.
Nếu dự thảo được ban hành với mức 52% giữ nguyên, nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ là bên hưởng dư địa tuyệt đối lớn nhất. Nhưng nếu NIM quý 3 tiếp tục thấp hơn cùng kỳ, phần dư địa đó vẫn chỉ nằm trên giấy trong khi chi phí vốn đã hiện diện ngay trên báo cáo kết quả kinh doanh. Văn bản chính thức của Thông tư và số liệu NIM quý 3 là hai mốc đáng theo dõi nhất trong những tuần tới.

