Quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 514 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 8,02%.VnEconomy So với mức khoảng 6,7 tỷ USD năm 1990, khi Việt Nam còn xếp thứ 85 thế giới, quy mô đã lớn hơn 70 lần, thứ hạng leo lên khoảng vị trí 32-35 toàn cầu.VietNamNet Thu nhập bình quân đầu người cũng đi từ 99 USD/năm năm 1990 lên khoảng 5.026 USD, tức 125,5 triệu đồng.VnEconomy
Bức tranh lớn cần được đọc kèm điểm xuất phát của nó. Năm 1990, Việt Nam vẫn dưới cấm vận, chưa bình thường hóa quan hệ với Mỹ, chưa vào ASEAN, nên một nền so sánh thấp bất thường sẽ khuếch đại mọi bội số tính về sau. Điều đáng phân tích không phải con số 70 lần, mà là cơ chế đã tạo ra quãng đường đó, và cơ chế ấy còn bao nhiêu dư địa.
Cỗ máy tăng trưởng: vốn ngoại kéo xuất khẩu, xuất khẩu kéo công nghiệp hóa
Chuỗi tăng trưởng của Việt Nam không đến từ một cú hích đơn lẻ, mà từ một cỗ máy vận hành liên tục suốt nhiều thập niên: vốn ngoại dựng năng lực sản xuất, năng lực sản xuất đẩy kim ngạch xuất khẩu, và xuất khẩu kéo lao động ra khỏi nông nghiệp, làm đổi cả cơ cấu nền kinh tế.

Dòng vốn FDI ròng bình quân mỗi năm đã đi từ 1.338 triệu USD giai đoạn 1990-2000 lên 17.121 triệu USD giai đoạn 2020-2025, cao gấp khoảng 13 lần. Kim ngạch xuất khẩu bình quân năm tăng từ 7,3 tỷ USD lên 365,5 tỷ USD, gấp 50 lần. Đáng chú ý hơn cả là độ mở của nền kinh tế: xuất khẩu tương đương 38% GDP giai đoạn 1990-2000, đến 2020-2025 đã tương đương 90% GDP.
Năm 2025 tiếp tục đúng nhịp đó: vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, vốn thực hiện 27,62 tỷ USD, mức giải ngân cao nhất 5 năm.VnEconomy Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 900 tỷ USD, tăng 16,9%.VietnamPlus Kết quả hiện rõ trong cơ cấu GDP: nông, lâm, thủy sản thu hẹp từ 14,7% (2010-2020) xuống 11,2% (2020-2025), công nghiệp và xây dựng mở rộng từ 34,4% lên 36,8%, dịch vụ đi từ 40,1% lên 42,5%.
Tốc độ tăng trưởng: chậm trên giấy, tăng tốc trong thực tế
Nhìn theo tốc độ tăng GDP thực bình quân từng giai đoạn, bức tranh thoạt đầu có vẻ đi xuống: 6,88%/năm giai đoạn 2000-2010, 5,86%/năm giai đoạn 2010-2020 và 5,54%/năm giai đoạn 2020-2025. Nhưng phần lớn khoảng lệch đó đến từ hai năm dịch bệnh, khi 2020 chỉ tăng 2,82%, 2021 tăng 2,66% và riêng quý 3/2021 âm tới 6,02%.

Nếu tách riêng bốn năm 2022-2025, tốc độ bình quân đạt khoảng 6,95%, đã trở lại ngang bằng, thậm chí nhỉnh hơn giai đoạn 2000-2010. Quý 4/2025 đạt 8,46% và quý 1/2026 vẫn giữ nhịp 7,83%, cho thấy đà phục hồi không phải hiện tượng một quý. Chất lượng tăng trưởng cũng cải thiện chứ không chỉ có quy mô: sản lượng mỗi giờ lao động tính theo sức mua tương đương đã đi từ 4,86 USD năm 2005 lên 12,70 USD năm 2025, tương đương mức tăng bình quân khoảng 4,9%/năm, và hai năm gần nhất nhích lên 5,8% rồi 5,7%.
Chỗ cỗ máy chưa chuyển hóa: giá trị đang ở lại với ai
Dòng tiền tăng trưởng vĩ mô ấy chuyển hóa được bao nhiêu vào năng lực doanh nghiệp trong nước lại là câu chuyện khác. Tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã leo từ 54,8% năm 2010 lên khoảng 76,2% năm 2025.

Tính trên tổng kim ngạch hai chiều, khối doanh nghiệp FDI đạt khoảng 663 tỷ USD, chiếm 72% thương mại hàng hóa cả nền kinh tế.Nhà Đầu Tư Nói cách khác, cỗ máy chạy rất tốt, nhưng phần lớn tay lái vẫn thuộc về doanh nghiệp nước ngoài. Tại hội thảo khoa học quốc gia về đổi mới mô hình phát triển ngày 20/8, Giảng viên cao cấp Nguyễn Trọng Hoài (Đại học Kinh tế TP.HCM - UEH) chỉ ra hàng xuất khẩu công nghệ tăng nhanh nhưng phần lớn nằm trong khu vực FDI, trong khi tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lại giảm, và đề xuất chuyển từ mô hình chỉ dựa vào đầu tư sang mô hình gắn đầu tư với lan tỏa công nghệ, đổi mới sáng tạo.VietNamNet
Con số cụ thể cho điểm nghẽn này nằm ở năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP): để đạt mục tiêu thu nhập cao vào khoảng 2045-2047, tăng trưởng TFP cần đi từ khoảng 0,2% lên trung bình 2% mỗi năm, trong khi dư địa tăng năng suất từ chuyển dịch lao động khỏi nông nghiệp cũng đang mỏng dần. Một mốc so sánh khu vực làm rõ cả hai mặt: năm 1990 GDP Thái Lan đạt 85 tỷ USD, xếp thứ 35 thế giới, nhưng sau 35 năm quy mô kinh tế nước này chỉ còn cao hơn Việt Nam khoảng 12%. Giảng viên cao cấp Ngô Thắng Lợi của Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) dẫn mức tăng GDP bình quân khoảng 6,4%/năm của Việt Nam, gấp đôi bình quân toàn cầu, nhưng cũng lưu ý rằng Thái Lan là ví dụ cho thấy chặng khó nhất là từ thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao, chứ không phải chặng vừa qua.
Trên sàn: khâu nào thật sự nhận lợi nhuận
Với nhà đầu tư, câu hỏi thực tế là dòng tăng trưởng vĩ mô ấy chảy qua đâu trước khi thành lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết. Tổng vốn hóa toàn thị trường tại phiên 21/8 vào khoảng 14,85 triệu tỷ đồng, với VN-Index đóng cửa tại 1.768,12 điểm.
Đối chiếu lợi nhuận ròng quý 2/2026 với cùng kỳ 2025, mức lan tỏa giữa các nhóm ngành chênh nhau rất xa. Bán lẻ dẫn đầu với bình quân gia quyền tăng 108%, trung vị tăng 46%. Logistics và vận tải theo sau với bình quân gia quyền tăng 81%, trung vị tăng 21%, cũng là nhóm có tốc độ tăng doanh thu bình quân cao nhất, khoảng 32%. Ngân hàng tăng 36% bình quân gia quyền nhưng phân hóa rõ: VCB tăng 65%, VPB tăng 78%, STB giảm 53%. Điện và tiện ích tăng tới 108% bình quân gia quyền nhưng trung vị chỉ 6%, vì một mình POW tăng 387% kéo cả nhóm trong khi NT2 giảm 6%, GEG giảm 95%.

Chi tiết dễ hiểu sai nhất là bất động sản khu công nghiệp: nhóm mang đúng nhãn hưởng lợi FDI lại có lợi nhuận quý yếu nhất, bình quân gia quyền giảm 52% khi BCM giảm 86%, KBC giảm 91%, SZC giảm 80%. Điều đó không đồng nghĩa dòng vốn ngoại đang chậm lại. Ít nhất ba cách giải thích khác đáng cân nhắc trước khi vội kết luận: nền so sánh quá cao (KBC từng tăng 2.405% ở quý 4/2025, BCM tăng 416% ở quý 2/2025, nên mức giảm theo năm trông lớn hơn thực chất); cách ghi nhận doanh thu cho thuê đất phụ thuộc tiến độ bàn giao từng dự án chứ không rải đều theo quý; và độ trễ tự nhiên giữa thời điểm vốn FDI giải ngân và thời điểm hợp đồng thuê đất được hạch toán. Cả ba đều phù hợp với dữ liệu hiện có, và không cái nào ủng hộ cách đọc rằng dòng vốn FDI đang rút.
Ngược lại, cảng biển, vận tải và bán lẻ đứng ở hạ nguồn của cỗ máy: hàng hóa phải vận chuyển ngay khi sản xuất, còn thu nhập từ khu công nghiệp quay lại thành tiêu dùng nội địa. Đó là lý do lợi nhuận ở hai nhóm này vừa cao vừa đều, thay vì dồn vào vài mã dẫn dắt như nhóm điện.
Điều đáng theo dõi tiếp
Quy mô nền kinh tế lớn hơn không tự động chuyển thành lợi nhuận doanh nghiệp niêm yết cao hơn. Nó chỉ chuyển hóa qua những khâu mà doanh nghiệp trong nước thực sự đứng, và với cấu trúc hiện tại, khâu đó nghiêng về vận tải, cảng biển, tiêu dùng nhiều hơn là sản xuất xuất khẩu, nơi khối FDI đang nắm phần lớn miếng bánh.
Với một nền kinh tế có xuất khẩu tương đương 90% GDP và khu vực FDI chiếm khoảng ba phần tư kim ngạch, hai biến số quyết định nhất trong 12 tháng tới là cầu hàng hóa toàn cầu và chính sách thương mại của các thị trường lớn. Tín hiệu đáng theo dõi là tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu và tốc độ TFP, hai thước đo cho biết cỗ máy có đang chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu hay chưa. Ở mức danh mục, một khung phòng thủ hợp lý là ưu tiên nhóm có lợi nhuận lan tỏa đều thay vì nhóm chỉ đúng về mặt chủ đề, và đọc kết quả nhiều quý liên tiếp thay vì dừng ở một quý đơn lẻ.

