GDP Nhật Bản vừa có thêm một quý tăng trưởng. Nhưng nếu chỉ dừng ở dấu cộng 0,3%, nhà đầu tư rất dễ bỏ qua điều quan trọng hơn: động lực bên trong nền kinh tế đang chưa đồng pha. Cầu nội địa giảm, trong khi xuất khẩu ròng tạo phần bù đủ lớn để tổng GDP vẫn đi lên.Văn phòng Nội các Nhật Bản
Bạn có thể hiểu GDP như tổng doanh thu của một cửa hàng có nhiều quầy. Quầy bán cho khách trong nước có thể yếu đi, nhưng quầy bán ra nước ngoài vẫn đủ tốt để cả cửa hàng tăng doanh thu. Vì thế, GDP dương chưa cho thấy sức khỏe tăng trưởng đã lan đều. Quý II của Nhật Bản tăng nhờ khu vực đối ngoại, còn nền tảng cầu tư nhân trong nước vẫn cần được kiểm chứng.
0,3% mới là mức tăng của quý này
Theo ước tính sơ bộ công bố ngày 17/8, GDP thực của Nhật Bản tăng 0,3% so với quý trước sau điều chỉnh mùa vụ. Báo cáo cũng nêu tốc độ năm hóa là 1,1%.Văn phòng Nội các Nhật Bản
Hai con số không thay thế cho nhau. Mức 0,3% là sản lượng thực tế tăng thêm trong quý II. Còn mức 1,1% là phép quy đổi: giả sử nhịp tăng 0,3% ấy lặp lại liên tục trong bốn quý, quy mô kinh tế sau một năm sẽ tăng xấp xỉ mức đó. Đây không phải là mức tăng đã xảy ra trong một năm so với cùng kỳ.

Với nhà đầu tư mới, cách đọc ít nhầm lẫn nhất là nhìn số theo quý trước, rồi mới dùng tốc độ năm hóa để so nhịp tăng với những nền kinh tế thường công bố theo cách này. Quý trước, GDP thực của Nhật Bản được cập nhật tăng 0,5% theo quý, tương đương 1,9% theo tốc độ năm hóa. Nhịp tăng quý II vì vậy vẫn là tăng trưởng, nhưng đã chậm hơn quý đầu năm.Văn phòng Nội các Nhật Bản
Khi cầu trong nước không nâng đỡ tăng trưởng
Điều đáng chú ý trong bảng cấu phần là cầu nội địa giảm 0,2% và làm GDP mất 0,2 điểm phần trăm. Đây là phần bao gồm tiêu dùng, đầu tư và nhiều khoản chi trong nước. Nó cho biết các động cơ gần với đời sống hộ gia đình và quyết định mở rộng sản xuất của doanh nghiệp chưa tạo thêm lực đẩy cho nền kinh tế trong quý này.Văn phòng Nội các Nhật Bản
Tiêu dùng tư nhân thực gần như không đổi. Riêng chi tiêu thực của hộ gia đình giảm 0,1% so với quý trước.Văn phòng Nội các Nhật Bản Mức giảm nhỏ này có ý nghĩa vì tiêu dùng lan tỏa sang bán lẻ, dịch vụ và doanh thu của doanh nghiệp nội địa. Khi người dân giữ chặt ví tiền, tăng trưởng khó có nền đỡ rộng.

Đầu tư doanh nghiệp cũng chưa cải thiện. Đầu tư thiết bị giảm 1,2% trong quý II, sau khi giảm 1,0% ở quý I; đầu tư nhà ở tư nhân giảm thêm 0,5%.Văn phòng Nội các Nhật Bản Nói đơn giản, doanh nghiệp đang chi ít hơn cho máy móc và năng lực sản xuất mới. Chuỗi hai quý giảm chưa đủ để kết luận một xu hướng dài hạn, nhưng chưa tạo nền tảng cho tăng trưởng dựa vào nhu cầu trong nước.

Tồn kho tư nhân đóng góp dương 0,3 điểm phần trăm vào GDP. Chỉ tiêu này cần được đặt đúng chỗ: doanh nghiệp có thể chủ động tích hàng để đón đơn hàng, nhưng cũng có thể đang giữ hàng vì bán chậm hơn dự kiến.Văn phòng Nội các Nhật Bản Báo cáo GDP chưa đủ để phân biệt hai khả năng. Số liệu bán lẻ, đơn hàng và sản xuất trong những tháng tới mới cho biết tồn kho là sự chuẩn bị hay là phần cầu bị dồn lại.
Xuất khẩu ròng là phần bù của quý II
Trong phép tính GDP, xuất khẩu được cộng vào còn nhập khẩu được trừ ra. Quý II, xuất khẩu thực của Nhật Bản tăng 0,5%, trong khi nhập khẩu thực giảm 1,5%. Kết quả là xuất khẩu ròng đóng góp 0,5 điểm phần trăm, nhiều hơn phần kéo lùi của cầu nội địa và đủ đưa GDP thực lên 0,3%.Văn phòng Nội các Nhật Bản

Đây là lý do không nên diễn giải phần bù này theo một chiều. Xuất khẩu tăng là tín hiệu tích cực về nhu cầu bên ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ Nhật Bản. Tuy nhiên, nhập khẩu giảm cũng khiến đóng góp ròng lớn hơn. Nếu nhập khẩu giảm vì hộ gia đình và doanh nghiệp mua ít hàng tiêu dùng, nguyên liệu hoặc máy móc hơn, thì cùng một kết quả thương mại lại phản ánh phần nào sức cầu nội địa yếu.
Giá cả làm bức tranh phức tạp thêm. GDP danh nghĩa tăng 1,2% theo quý, tương đương tốc độ năm hóa 4,8%, cao hơn đáng kể mức tăng GDP thực. Chỉ số giá của cầu nội địa cũng tăng 1,2%.Văn phòng Nội các Nhật Bản Doanh thu tính bằng tiền có thể tăng nhanh hơn lượng hàng hóa và dịch vụ thực được tạo ra. Đó là lý do người đọc báo cáo doanh nghiệp hay số liệu vĩ mô cần tách phần tăng do giá khỏi phần tăng do sản lượng.
BOJ và thị trường sẽ không chỉ nhìn một con số
Đối với Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, báo cáo này không đưa ra một tín hiệu đơn giản. Cầu nội địa giảm và đầu tư thiết bị yếu là các dữ kiện ủng hộ sự thận trọng khi điều chỉnh lãi suất. Nhưng GDP vẫn tăng và chỉ số giá cầu nội địa còn đi lên, nên chỉ riêng báo cáo này cũng không chứng minh Ngân hàng Trung ương Nhật Bản sẽ thay đổi hướng chính sách.
Đồng yên, trái phiếu và cổ phiếu vì vậy có thể phản ứng khác nhau. Đồng yên thường nhạy với chênh lệch lãi suất giữa Nhật Bản và Mỹ; dữ liệu cầu nội địa yếu có thể làm thị trường thận trọng hơn với kỳ vọng lãi suất Nhật tăng nhanh. Trái phiếu còn phải phản ánh lạm phát, triển vọng tăng trưởng và nhu cầu vay của Chính phủ. Cổ phiếu xuất khẩu có thể chú ý đến đơn hàng nước ngoài và tỷ giá, trong khi doanh nghiệp hướng đến người tiêu dùng trong nước cần thấy thu nhập thực cùng chi tiêu phục hồi.

Không nên suy từ việc GDP công bố tăng sang kết luận rằng Nikkei 225 sẽ tăng hoặc BOJ sẽ lập tức hành động. Đó là hai quan hệ có thể cùng xuất hiện nhưng còn chịu ảnh hưởng của lạm phát, tiền lương, chính sách Mỹ và tâm lý thị trường. Báo cáo này giúp thu hẹp câu hỏi đúng hơn: phần nào của tăng trưởng đang đủ bền để thay đổi kỳ vọng chính sách?
Dấu cộng là điểm bắt đầu để đọc kỹ hơn
Kết luận hiện tại không phải Nhật Bản suy thoái, cũng không phải nền kinh tế đã khỏe đồng đều. Bằng chứng tốt nhất cho thấy GDP quý II vẫn tăng, nhưng phần tăng nghiêng về xuất khẩu ròng trong khi cầu nội địa giảm. Đó là một khác biệt quan trọng giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng.
Các báo cáo tới cần được theo dõi theo đúng mạch này: tiêu dùng thực có trở lại tăng hay không, đầu tư thiết bị có ngừng giảm hay không, và đóng góp từ thương mại đến nhiều hơn từ xuất khẩu hay chủ yếu từ nhập khẩu co lại. Nếu hai động cơ trong nước phục hồi, tăng trưởng sẽ có nền rộng hơn. Nếu không, phần bù từ khu vực đối ngoại vẫn là một trụ đỡ hữu ích, nhưng chưa đủ để gọi đó là sự hồi phục đồng đều.

