Có một niềm tin gần như mặc định trong giới đầu tư cá nhân Việt Nam: trái phiếu chính phủ là kênh an toàn, mua rồi thì yên tâm. Niềm tin đó có cơ sở, vì một chính phủ vay bằng chính đồng tiền của mình gần như không bao giờ mất khả năng trả nợ.
Nhật Bản là ví dụ cực đoan cho phần "an toàn" đó. Nợ công nước này vượt 200% GDP, cao nhất trong nhóm các nền kinh tế phát triển, vậy mà chưa ai nghi ngờ khả năng Tokyo trả nợ. Nhưng chính trái phiếu Nhật vừa cho thấy vế còn lại: an toàn về khả năng trả nợ không có nghĩa là an toàn về giá.
Lợi suất vượt mốc 30 năm, giá trái phiếu dài hạn giảm hai chữ số
Ngày 1/9, lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật kỳ hạn 10 năm vượt mốc 3%, lần đầu tiên kể từ tháng 9/1996.Japan Times Mức cao nhất kể từ 1996 thực ra đã hình thành từ giữa tháng 8, khi lợi suất đóng cửa ở 2,939%; phiên 1/9 chỉ là bước cuối qua ngưỡng tâm lý này.Báo Tin Tức
Kỳ hạn dài hơn còn đi xa hơn. Lợi suất trái phiếu Nhật kỳ hạn 30 năm tăng từ 3,442% ngày 11/3 lên 4,124% ngày 31/8, tức thêm 68,2 điểm cơ bản trong chưa đầy sáu tháng. Đây là chỗ niềm tin "an toàn" va vào toán học: giá trái phiếu và lợi suất luôn ngược chiều nhau, lợi suất tăng buộc giá thị trường của các lô trái phiếu đã phát hành phải giảm.

Với một trái phiếu 30 năm phát hành ngang giá ở lãi suất 3,44%, lợi suất nhích lên 4,12% tương đương giá thị trường giảm khoảng 11,6%. Người mua trái phiếu Nhật kỳ hạn 30 năm hồi tháng 3 đang lỗ khoảng 11% trên giá thị trường, dù Nhật Bản không chậm trả một đồng lãi nào. Mức lỗ đó ngang một nhịp điều chỉnh cổ phiếu, đến từ một tài sản mang tên "trái phiếu chính phủ".
Vì sao lợi suất Nhật tăng: kỳ vọng BOJ là lực dẫn dắt
Bốn lực đang đẩy lợi suất Nhật lên, nhưng chỉ một lực thực sự dẫn dắt: kỳ vọng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tăng lãi suất. BOJ hiện giữ lãi suất chính sách ở 1,0%, cao nhất từ 1995. Tại cuộc họp đầu tháng 8, hội đồng giữ nguyên lãi suất với tỷ lệ 8:1, để ngỏ khả năng tăng vào tháng 9; xác suất thị trường định giá cho đợt tăng này đã đi từ khoảng 30% cuối tháng 7 lên 79% giữa tháng 8. Đỉnh lợi suất tháng 8 rơi đúng lúc xác suất này được định giá đầy đủ, đó là lý do BOJ được xem là lực chi phối.
Ba lực còn lại chỉ đóng góp và khuếch đại. Chính sách tài khóa nới lỏng dưới thời Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi, với kế hoạch đầu tư 370 nghìn tỷ yên cùng các phương án giảm thuế, làm dấy lên lo ngại về nguồn cung trái phiếu mới. Đồng yên yếu, mất giá 2,07% trong tháng 8, đẩy chi phí nhập khẩu năng lượng lên, càng thêm lý do để BOJ hành động. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent nói ông kỳ vọng Nhật Bản sẽ hành động giúp đồng yên mạnh lên, tiếp nối đợt can thiệp tỷ giá phối hợp giữa hai nước bằng một lần tăng lãi suất.Japan Times Phía Nhật không xác nhận cách đọc này: Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama giảm nhẹ thông tin cho rằng ông Bessent đang thúc ép BOJ nâng lãi suất, chỉ khẳng định hai bên cùng đánh giá đợt can thiệp tỷ giá là có ích.FMT

Mốc 3% không chỉ là con số tâm lý
Nội các Nhật Bản phê duyệt ngân sách tài khóa 2026 ở mức kỷ lục 122,3 nghìn tỷ yên, với chi phí trả nợ tính trên giả định lợi suất 3,0%.VTV Thị trường vừa chạm đúng con số chính phủ dùng làm giả định. Cho tài khóa 2027, Bộ Tài chính Nhật dự kiến nâng giả định lên 3,8%, kéo chi phí trả nợ tăng 17,1% lên mức kỷ lục 36.640 tỷ yên. Đây mới là dự toán, chưa phải ngân sách đã thông qua, nhưng cho thấy chi phí lãi vay đang nặng dần trong một nền kinh tế nợ hơn 200% GDP.VietnamPlus Đáng chú ý theo hướng ngược lại: ngay sau khi chạm 3%, phiên đấu giá trái phiếu cùng kỳ hạn vẫn cho thấy nhu cầu mua tốt. Thị trường đang đòi giá cao hơn, chứ chưa quay lưng.
"Bán tháo trái phiếu toàn cầu" không phải một khối
Lợi suất cùng tăng ở nhiều nơi, nhưng không cùng một động cơ. Trong hai tháng 7 và 8/2026, tương quan biến động lợi suất hàng ngày giữa Mỹ, Anh và Đức nằm trong khoảng 0,67 đến 0,87, tức khối phương Tây đi gần cùng nhịp dưới áp lực chung là nguồn cung nợ dài hạn dư thừa và lo ngại lạm phát dai dẳng. Nhật Bản gần như đứng riêng: tương quan giữa lợi suất Nhật với Mỹ, Anh và Đức chỉ ở mức 0,05 đến 0,16. Đợt tăng của Nhật đến từ chuyện nội bộ, không phải hệ quả lây từ Mỹ hay châu Âu.

Không thể suy diễn từ "trái phiếu Nhật tăng lợi suất" ra "mọi thị trường trái phiếu đều đang cùng một cơn sóng". Chúng cùng đi lên vì những lý do khác nhau, và có thể quay đầu ở những thời điểm khác nhau.
Niềm tin đúng ở đâu, sai ở đâu
Giới đầu tư cá nhân thường gộp hai loại rủi ro làm một. Rủi ro vỡ nợ là khả năng bên phát hành không trả được gốc lẫn lãi; với trái phiếu chính phủ vay nội tệ, rủi ro này thấp thật, và Nhật Bản chứng minh điều đó: nợ hơn 200% GDP mà không ai nghi ngờ khả năng trả nợ.
Rủi ro lãi suất là khả năng giá thị trường trái phiếu giảm khi mặt bằng lãi suất đi lên, và rủi ro này không được nhãn "chính phủ" bảo vệ. Nó phụ thuộc gần như hoàn toàn vào kỳ hạn: kỳ hạn càng dài, cùng một mức tăng lợi suất càng gây thiệt hại giá lớn hơn. Cùng mức lợi suất tăng 68,2 điểm cơ bản, trái phiếu 30 năm mất khoảng 11,6% giá trị, còn trái phiếu 5 năm chỉ mất khoảng 3%.

Câu "trái phiếu chính phủ an toàn" nên đọc lại thành: an toàn về khả năng được trả nợ, không an toàn về giá trong thời gian nắm giữ. Nếu nắm giữ đến ngày đáo hạn, biến động giá không biến thành lỗ thật; rủi ro lãi suất chỉ hiện thực hóa khi phải bán trước hạn, hoặc nắm giữ gián tiếp qua một quỹ mở định giá tài sản theo giá thị trường mỗi ngày.
Với nhà đầu tư Việt Nam: đọc theo kỳ hạn, không đọc theo nhãn
Mặt bằng lợi suất trong nước hiện ở vùng cao của 12 tháng. Lợi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam kỳ hạn 10 năm ở 4,41%, thấp hơn lợi suất Kho bạc Mỹ cùng kỳ hạn khoảng 0,31 điểm phần trăm. Lãi suất tiết kiệm 12 tháng nhóm ngân hàng lớn quanh 5,9%/năm tại quầy, còn kênh trực tuyến ở một số ngân hàng nhỏ lên tới 7%/năm và hơn.Dân Trí

Nhóm quỹ trái phiếu mở trong nước cho kết quả khả quan từ đầu năm, 23 trong 24 quỹ có hiệu suất dương, nhóm dẫn đầu đạt 4,5 đến 5,1% sau tám tháng. Kết quả đó đến từ tiền lãi định kỳ ở mặt bằng lãi suất neo cao, không phải bằng chứng NAV miễn nhiễm với rủi ro lãi suất. Quỹ tỷ trọng trái phiếu cao, kỳ hạn dài nhạy cảm hơn hẳn nhóm giữ nhiều tiền gửi ngắn hạn, đổi lại hiệu suất thấp hơn, chỉ 2,2 đến 3,2%.
Kênh truyền dẫn từ Nhật sang Việt Nam nếu BOJ tăng lãi suất tháng 9 chủ yếu là tâm lý ngại rủi ro toàn cầu, khi các vị thế vay yên lãi suất thấp để đầu tư tài sản lợi suất cao bị đóng lại. Khối ngoại đã bán ròng sáu tháng liên tiếp trên HOSE, khoảng 95.100 tỷ đồng từ tháng 3 đến tháng 8, dù tốc độ bán tháng 8 đã thu hẹp còn 5.645 tỷ đồng so với đỉnh 23.174 tỷ đồng hồi tháng 5. Quy mô này tương đối nhỏ so với thị trường và đã được dòng tiền nội hấp thụ suốt từ đầu năm.
Kết: kỳ hạn là biến số, nhãn "chính phủ" thì không
Bài học Nhật Bản đưa lại một kết luận cụ thể: thứ quyết định mức biến động bạn phải chịu khi cầm một sản phẩm lãi suất cố định là kỳ hạn, không phải nhãn của bên phát hành. Tiền cần dùng trong 6 đến 12 tháng nên chọn kỳ hạn ngắn — tiết kiệm 6 đến 12 tháng, hoặc quỹ giữ tỷ trọng tiền gửi cao — vì biến động lãi suất gần như không chạm được vào số tiền nhận về. Tiền nhàn rỗi từ 2 đến 3 năm trở lên, nếu chấp nhận biến động giá giữa chừng, có thể chọn kỳ hạn dài hơn để đổi lấy lợi suất cao hơn. Khi nắm gián tiếp qua quỹ trái phiếu mở, nên xem tỷ trọng trái phiếu và kỳ hạn danh mục trước khi xem con số hiệu suất từ đầu năm.
Tín hiệu cần theo dõi gần nhất là cuộc họp chính sách BOJ ngày 17 và 18/9. Thị trường đã định giá gần như đầy đủ một đợt tăng lãi suất, nên tín hiệu trì hoãn có thể tạo nhịp đảo ngược đáng kể; ngược lại, nếu BOJ hành động đúng kỳ vọng, mốc 3% nhiều khả năng chưa phải điểm dừng.

