Ngày 13/8/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống tổ chức tín dụng, yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm thực chất lãi suất cho vay. Văn phòng Chính phủ còn yêu cầu Ngân hàng Nhà nước xử lý theo thẩm quyền những tổ chức tín dụng không chấp hành.Dân trí Một chỉ đạo hiếm khi đi kèm chế tài rõ đến vậy.
Phía cho vay phản ứng gần như ngay lập tức. Agribank công bố gói 70.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn 1-2%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn, Vietcombank và VietinBank mỗi bên thêm 50.000 tỷ đồng với mức thấp hơn tối thiểu 1%/năm.Người Quan Sát Nhưng đúng ba tuần sau chỉ đạo, ở phía người gửi tiền, gần như không có gì chuyển động. Bước sang tháng 9, nhóm Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank vẫn niêm yết quanh 6,6%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng, còn ACB dẫn đầu khối cổ phần với 7,6-7,8%/năm.Dân trí
Cùng một hệ thống, cùng một chỉ đạo, hai phía bảng cân đối đi hai hướng khác nhau. Đó không phải chuyện chống lệnh. Điều chỉ đạo không nói ra là: có một phép tính nằm sau bảng lãi suất, và mệnh lệnh hành chính không xóa được nó.
Ngân hàng đang cho vay nhiều hơn số tiền huy động được
Đến cuối tháng 7/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt gần 9% so với cuối năm 2025, trong khi huy động vốn chỉ tăng 5,75%.Người Quan Sát Khoảng cách hơn 3 điểm phần trăm này không phải chuyện một tháng, nó đã tích lũy suốt cả năm.
Số liệu của Yuanta Research trên nhóm 27 ngân hàng niêm yết cho thấy hệ quả cụ thể hơn: tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi đã lên 114% trong quý 2/2026, từ mức 108% cùng kỳ năm trước. Nói cách khác, với mỗi 100 đồng huy động được, nhóm ngân hàng này đang cho vay ra 114 đồng. Phần 14 đồng chênh lệch không tự nhiên sinh ra, nó phải đến từ nguồn khác, và nguồn khác thì luôn đắt hơn tiền gửi dân cư.

Vốn bù vào chỗ thiếu đều là vốn đắt
Đây là phần chỉ đạo không nhắc tới. Từ đầu năm 2026, VPBank, Techcombank, HDBank và ACB đã vay hợp vốn quốc tế với tổng giá trị khoảng 3,4 tỷ USD.Người Quan Sát Theo ước tính của Yuanta, chi phí vay USD của các khoản này khoảng 5,0-5,3%/năm, chưa tính chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Cộng đủ các lớp phí, khoản vốn đó không hề rẻ hơn tiền gửi trong nước.
Cùng lúc, phần vốn rẻ nhất đang co lại. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm còn 20,9%. Khi dòng tiền không kỳ hạn rút đi, ngân hàng buộc phải thay bằng tiền gửi có kỳ hạn, tức trả lãi suất cao hơn cho cùng một lượng vốn.

Rủi ro thực sự nằm ở đây: báo cáo quý 2/2026 cho thấy chi phí vốn của các ngân hàng tăng 105 điểm cơ bản so với cùng kỳ, lên 4,79%. Lợi suất tài sản tăng 92 điểm cơ bản, lên 7,70%. Biên lãi ròng đạt 3,15%, tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước nhưng vẫn giảm 10 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước. Theo Yuanta Research, phần cải thiện so với quý trước chủ yếu đến từ tái định giá khoản vay và tăng tỷ trọng cho vay dài hạn, không phải từ chi phí vốn giảm đi.

Chênh lệch giữa 7,70% và 4,79% là toàn bộ khoảng đệm để ngân hàng trang trải chi phí vận hành, trích lập dự phòng và tạo lợi nhuận. Khoảng đệm đó đang phải gánh thêm sức nặng khác: tổng nợ xấu hệ thống khoảng 300.000 tỷ đồng, tăng 17% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn ngành trên 2%, nợ nhóm 2 và nhóm 5 có xu hướng tăng.Người Quan Sát Nợ xấu tăng buộc ngân hàng trích lập nhiều hơn, ăn thẳng vào phần đệm vừa nói.

Vì sao lời giải chỉ có thể là giảm có chọn lọc
Đặt chi phí vốn 4,79% cạnh lợi suất tài sản 7,70% và biên lãi ròng 3,15%, dư địa thật hiện ra rất mỏng. Hạ lãi suất cho vay trên toàn bộ dư nợ thêm một điểm phần trăm sẽ cắt thẳng vào biên lãi ròng đang ở vùng mỏng này, đúng lúc chi phí dự phòng đang đi lên.
Đó là lý do các gói ưu đãi đều có chung một hình hài: một hạn mức công bố trước, một nhóm khách hàng được chỉ định, một thời hạn kết thúc. Đây là cách trợ giá cho một phần dư nợ, chứ không phải định giá lại toàn bộ bảng cân đối. Đáng chú ý, chỉ đạo của Thủ tướng cũng không yêu cầu hạ lãi suất điều hành. Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu tiếp tục duy trì, điều tiết chủ động lãi suất điều hành và tăng cường cung ứng thanh khoản, hai công cụ này chỉ làm dịu chi phí vốn ngắn hạn, không thay được nguồn vốn kỳ hạn dài mà tăng trưởng tín dụng đang cần.
Cần thừa nhận khoảng cách tín dụng và huy động không phải lời giải duy nhất cho việc lãi suất tiền gửi neo cao. Lãi suất quốc tế còn cao gây sức ép lên tỷ giá, buộc duy trì lãi suất thực dương trong nước; cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác cũng khiến ngân hàng phải trả thêm để giữ chân người gửi. Nhưng dữ liệu nghiêng về khoảng cách vốn là yếu tố áp đảo, vì chính nó giải thích được cả tỷ lệ 114%, việc phải đi vay hợp vốn quốc tế, lẫn mức chi phí vốn tăng 105 điểm cơ bản chỉ trong một năm.
Ai đang chịu phần chênh lệch này
Mặt bằng lãi suất tiết kiệm hiện nay không đến từ sự hào phóng của ngân hàng, nó đến từ chỗ ngân hàng đang thiếu vốn để cho vay. Với người gửi tiền, cách đọc đó dẫn tới vài hệ quả cụ thể.
Cấu trúc kỳ hạn đang thưởng rõ cho kỳ hạn dài. Kỳ hạn dưới 6 tháng bị chặn bởi trần lãi suất, phần lớn ngân hàng niêm yết quanh 4,65-4,75%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng dao động 6,8-7,8%/năm tùy nhóm.Dân trí Khoảng cách 2-3 điểm phần trăm giữa hai kỳ hạn này là mức chênh đáng kể so với nhiều giai đoạn trước.

Chênh lệch giữa các ngân hàng hiện còn lớn hơn chênh lệch giữa các thời điểm. Cùng kỳ hạn 12 tháng, nhóm quốc doanh trả 6,8%/năm còn ACB niêm yết 7,8%/năm. Dân trí còn ghi nhận một số ngân hàng tư nhân đang áp dụng mức thực tế 8,5-9,2%/năm cho kỳ hạn 6-12 tháng, cao hơn đáng kể biểu niêm yết công khai. Phần chênh lệch lớn nhất với người gửi tiền hiện đến từ việc chọn ngân hàng, không phải từ việc chờ một thời điểm tốt hơn.
Điểm cuối cùng đáng nói: đây là mức lãi suất sinh ra từ áp lực, không phải từ một chu kỳ nới lỏng chủ động. Nó sẽ tồn tại chừng nào áp lực còn đó, và sẽ hạ nhiệt khi áp lực giảm, không cần thêm quyết định hành chính nào để đảo chiều.
Tín hiệu cần theo dõi
Con số quyết định hướng đi tiếp theo là khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn. Nếu khoảng cách đó thu hẹp trong báo cáo quý 3, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi hạ khỏi vùng 114% và CASA phục hồi trên 20,9%, chi phí vốn sẽ tự giảm và lãi suất tiết kiệm sẽ đi xuống mà không cần thêm chỉ đạo nào. Nếu khoảng cách tiếp tục nới rộng khi tín dụng tăng tốc về mục tiêu cả năm, mặt bằng lãi suất huy động nhiều khả năng giữ nguyên vùng hiện tại đến hết năm, bất kể có thêm bao nhiêu gói ưu đãi lãi vay được công bố.
Với nhà đầu tư cổ phiếu ngân hàng, cùng bộ số liệu này chỉ ra một rủi ro cần theo dõi sát: biên lãi ròng 3,15% đang bị kẹp giữa chi phí vốn tăng và áp lực giảm lãi vay, trong khi chi phí dự phòng đi lên theo nợ xấu. Báo cáo quý 3 sẽ cho biết phần cải thiện biên lãi ròng của quý 2 là một bước ngoặt thật sự, hay chỉ là một quý tái định giá thuận lợi tạm thời.

