Trở về Blog
Cẩm nang đầu tư
·9 phút đọc

Ngành quỹ tăng 6,8 lần: Phần cho cá nhân vẫn mỏng

AUM ngành quản lý quỹ Việt Nam đạt 846 nghìn tỷ đồng, gấp 6,8 lần sau 11 năm. Nhưng phần thực sự dành cho nhà đầu tư cá nhân mua chứng chỉ quỹ chỉ khoảng 247,8 nghìn tỷ đồng, chưa bằng 2,2% tiền gửi tiết kiệm dân cư.

Ngành quỹ tăng 6,8 lần: Phần cho cá nhân vẫn mỏng
Minh Quân

Minh Quân

Phân tích doanh nghiệp

Ngày 25/8 tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán cùng Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) tổ chức hội nghị "Đầu tư thông minh trong kỷ nguyên số: Nhận diện cơ hội đầu tư qua các quỹ". Con số được nhắc đến nhiều nhất là tổng tài sản quản lý (AUM) của các công ty quản lý quỹ, tăng từ khoảng 124 nghìn tỷ đồng cuối năm 2015 lên hơn 846 nghìn tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tương đương gấp 6,8 lần sau hơn mười năm.Thời báo Tài chính Việt Nam

Nhìn vào con số này, câu hỏi đáng giá với nhà đầu tư cá nhân đang cân nhắc mua chứng chỉ quỹ không phải là nó lớn hay nhỏ. Câu hỏi là nó đo cái gì, và phần nào trong đó thực sự là kênh mà một người bình thường có thể bước vào.

Hội nghị Đầu tư thông minh trong kỷ nguyên số do UBCKNN tổ chức ngày 25/8/2026

Gấp 6,8 lần và 6% GDP: cùng một ngành, hai kết luận trái ngược

Thước đo thứ nhất là tốc độ tăng trưởng nội tại, và nó phản ánh một hệ sinh thái đông đúc hơn nhiều so với một thập kỷ trước. Hiện có 43 công ty quản lý quỹ đang hoạt động với 142 quỹ đầu tư chứng khoán, trong đó 106 quỹ đại chúng, phân phối qua 51 đại lý gồm các công ty chứng khoán và tổ chức tài chính.Thời báo Tài chính Việt NamVietnamFinance

Thước đo thứ hai là quy mô so với nền kinh tế, và nó cho ra một bức tranh khác hẳn. Ông Nguyễn Công Minh, Trưởng Ban Quản lý các công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán thuộc UBCKNN, cho biết tài sản quản lý toàn ngành mới tương đương khoảng 6% GDP.Thời báo Tài chính Việt Nam Cùng chỉ tiêu này, Thái Lan ở mức trên 31%, Malaysia trên 56%, Trung Quốc trên 57% và Hàn Quốc khoảng 84% GDP.Thời báo Tài chính Việt Nam

So sánh tỷ lệ tài sản quản lý quỹ trên GDP giữa Việt Nam và các nước trong khu vực

Ngay trong thị trường vốn Việt Nam, ngành quỹ cũng là mảnh nhỏ nhất. Vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 65% GDP, thị trường trái phiếu khoảng 24-25% GDP.VietnamFinance Nói cách khác, tiền của người Việt đã vào thị trường vốn với quy mô đáng kể, chỉ là phần lớn không đi qua quỹ.

846 nghìn tỷ đồng đó thực sự là tiền của ai

Đây là chỗ hai thước đo trên vẫn chưa đủ. Tài sản quản lý của một công ty quản lý quỹ gồm hai mảng rất khác nhau: tài sản của các quỹ đầu tư chứng khoán mà công chúng góp vốn vào, và danh mục nhận ủy thác đầu tư từ các tổ chức lớn. Hai mảng này không cùng đối tượng sở hữu, nên gộp chung vào một con số AUM duy nhất dễ khiến người đọc hiểu nhầm quy mô kênh dành cho cá nhân.

Theo phân tích của FiinGroup, tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ đầu tư chứng khoán đến cuối tháng 7/2026 đạt khoảng 247,8 nghìn tỷ đồng, giảm 26,9 nghìn tỷ đồng so với cuối tháng 6.Thời báo Tài chính Việt Nam Đặt cạnh 846 nghìn tỷ đồng tài sản quản lý toàn ngành, phần nằm trong các quỹ chưa tới một phần ba. Quy ra tỷ lệ với nền kinh tế, đó là chưa tới 2% GDP, chứ không phải 6%.

Minh họa hai bể chứa nước chênh lệch quy mô, ẩn dụ cho phần nhỏ dành cho nhà đầu tư cá nhân trong tổng tài sản quản lý ngành quỹ

Phần còn lại, khoảng 598 nghìn tỷ đồng, là danh mục nhận ủy thác đầu tư. Đây chủ yếu là tiền phí bảo hiểm dài hạn của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được đưa đi đầu tư qua công ty quản lý quỹ, không phải tiền mà nhà đầu tư cá nhân góp vào chứng chỉ quỹ.

Thu hẹp thêm một vòng nữa vào đúng nhóm sản phẩm mà người mới thường tiếp cận, quy mô còn nhỏ hơn. Tổng tài sản của nhóm quỹ mở cổ phiếu trong nước tại thời điểm 30/6/2026 khoảng 26,7 nghìn tỷ đồng, còn nhóm ETF niêm yết trên HOSE khoảng 23,5 nghìn tỷ đồng tính theo giá đóng cửa ngày 25/8/2026. Hai con số này là ảnh chụp ở hai thời điểm khác nhau và chưa gồm 9 quỹ mở chưa cập nhật số liệu, nên chỉ nên đọc theo bậc độ lớn: vài chục nghìn tỷ đồng, không phải vài trăm.

Phép so sánh dễ hiểu nhất: đặt cạnh sổ tiết kiệm

Thước đo dễ hình dung nhất với người mới không phải GDP mà là sổ tiết kiệm. Đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi của dân cư tại hệ thống ngân hàng đạt 11,07 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025 và lập kỷ lục mới.Vietstock

Toàn bộ tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán, khoảng 247,8 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng khoảng 2,2% lượng tiền gửi đó. Với riêng nhóm quỹ mở cổ phiếu trong nước, tỷ lệ còn thấp hơn nhiều lần. Khi các cơ quan quản lý nói về dư địa của ngành quỹ, thứ họ nói tới trước hết là khoảng cách giữa 11,07 triệu tỷ đồng đang gửi ngân hàng và vài trăm nghìn tỷ đồng đang được quản lý trong quỹ, chứ không phải dòng vốn ngoại.

So sánh quy mô tiền gửi dân cư tại ngân hàng với tổng tài sản ròng các quỹ đầu tư chứng khoán

Chính vì vậy, mục tiêu đến năm 2030 mà Bộ Tài chính đặt ra tại Quyết định số 3168/QĐ-BTC ngày 12/9/2025 không nhắm vào tài sản quản lý toàn ngành mà nhắm thẳng vào phần quỹ: tổng NAV các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5% GDP, số lượng quỹ đạt 500, và số nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ đạt 2,5 triệu người, rồi lên 5 triệu người vào năm 2035.Chính phủ điện tử Từ chưa tới 2% GDP lên 5% GDP trong hơn bốn năm, trong khi bản thân GDP vẫn tăng, nghĩa là quy mô quỹ phải tăng nhanh hơn nền kinh tế nhiều lần.

Nâng hạng thị trường không tự động đổ tiền vào quỹ nội

Cần tách hai dòng chảy hay bị gộp làm một. Việc thị trường Việt Nam được nâng hạng và các cổ phiếu Việt được đưa vào rổ chỉ số FTSE GEIS tác động trực tiếp lên chính những cổ phiếu trong rổ và lên các quỹ chỉ số nước ngoài mô phỏng rổ đó. Nó không tự động đẩy tiền vào các quỹ mở nội địa mà nhà đầu tư Việt Nam mua chứng chỉ.

Ba cách giải thích cho việc quy mô quỹ nội vẫn mỏng đều có phần đúng. Thứ nhất là thói quen: lãi suất tiết kiệm và tự mua cổ phiếu vẫn quen thuộc hơn với phần lớn người có tiền nhàn rỗi. Thứ hai là hiệu suất gần đây: theo FiinGroup, hiệu suất bình quân nhóm quỹ cổ phiếu bảy tháng đầu năm 2026 là âm 8,9%, so với mức tăng 12,2% cùng kỳ năm 2025, một giai đoạn khó để thuyết phục người mới rằng ủy thác cho chuyên gia luôn tốt hơn tự làm.Thời báo Tài chính Việt Nam Thứ ba là sản phẩm: Đề án 3168 dành phần lớn nhóm giải pháp cho việc bổ sung loại hình quỹ mới, từ quỹ chỉ số, quỹ đầu tư công cụ thị trường tiền tệ đến quỹ đầu tư trái phiếu hạ tầng, cho thấy chính cơ quan quản lý cũng đánh giá dải sản phẩm hiện tại còn hẹp.

Nhìn vào con số, cách giải thích thứ nhất là chính. Khoảng cách giữa 11,07 triệu tỷ đồng tiền gửi và vài trăm nghìn tỷ đồng trong quỹ lớn đến mức hiệu suất một năm hay số lượng sản phẩm khó là nguyên nhân áp đảo. Hai yếu tố còn lại khuếch đại chứ không tạo ra khoảng cách đó.

Trụ sở Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tại Hà Nội

Nhà đầu tư cá nhân nên đọc bộ số này thế nào

Con số 846 nghìn tỷ đồng không phải thước đo mức độ phát triển của kênh chứng chỉ quỹ. Khi đọc tin về ngành quỹ, phần đáng theo dõi là NAV các quỹ đầu tư chứng khoán và số nhà đầu tư nắm chứng chỉ quỹ, hai chỉ tiêu được đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030.

Dư địa cấu trúc là có thật và kéo dài nhiều năm, nên khung phù hợp với kênh này là mua đều kỳ trong dài hạn với một phần danh mục, không phải vào nhanh để đón một đợt vốn ngoại. Với nhà đầu tư mới chưa có kinh nghiệm chọn cổ phiếu, quỹ mở và ETF thường phù hợp với phần vốn dài hạn không cần dùng tới trong vài năm, phần còn lại nên giữ ở kênh thanh khoản cao hơn.

Quỹ cũng không loại bỏ rủi ro thị trường. Bảy tháng đầu năm 2026 với hiệu suất bình quân âm 8,9% là lời nhắc rằng ủy thác cho tổ chức chuyên nghiệp giúp phân tán rủi ro theo danh mục, chứ không giúp tránh nhịp điều chỉnh chung của thị trường.

Tín hiệu đáng theo dõi trong các quý tới là số lượng quỹ mới được cấp phép và tốc độ tăng số nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ. Đó là hai con số cho biết dòng tiền cá nhân có thực sự dịch chuyển hay không, sớm hơn nhiều so với lúc tỷ lệ NAV trên GDP kịp thay đổi.

Tags:quỹ đầu tưchứng chỉ quỹtiền gửi ngân hàngđầu tư dài hạn
Minh Quân

Minh Quân

Phân tích doanh nghiệp

Chuyên mổ xẻ báo cáo tài chính và tìm ra câu chuyện đằng sau những con số.